Biến Đổi Khí Hậu

Vai trò của rừng ngập mặn ở Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí  hậu toàn cầu

Biến đổi khí hậu, trái đất ấm dần lên, nước biển đang ngày càng dâng cao không còn là chuyện của thế giới, mà đang là mối đe doạ trực tiếp đến nước ta. Theo ngân hàng thế giới, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trái đất sẽ tăng thêm. Ngưỡng biến đổi khí hậu nguy hiểm khi nhiệt độ trái đất tăng thêm 20C. Ngưỡng này báo hiệu một xu thế khó tránh khỏi là  băng ở hai cực và băng trên các núi cao tan nhanh và làm nước biển dâng cao.

Với hơn 3260 km bờ biển, đất thấp, nước ta được coi là một trong 5 nước
đứng đầu thế giới sẽ chịu thiệt hại nặng nề nhất do biến đổi khí  hậu. Biến đổi khí hậu sẽ làm cho các vùng đất dọc bờ biển, từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập trong nước biển. Biến đổi khí hậu dẫn đến nhiều nguy cơ lớn cho nước ta: mất đất sản xuất nông nghiệp, gia tăng hạn hán và bão lụt, bệnh tật gia tăng, và quan trọng nhất là các hệ sinh thái tồn tại nhiều vạn năm sẽ bị tổn thương, bị phá vỡ.

Theo dự báo của  các tổ chức quốc tế, nếu không có các biện pháp hiệu quả
để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên khoảng 1,8 – 20C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng hơn 5 – 10%, băng ở 2 cực và băng trên núi cao sẽ tan, mực nước biển sẽ dâng lên khoảng 0,7 đến 1m. Nước biển dâng sẽ gây nên xói mòn  bờ biển, ngập  lụt vùng ven bờ, làm suy thoái đất ngập nước, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt; các hệ sinh thái bị phá huỷ, mất đa dạng sinh học, tác hại lớn đến nền kinh tế; dịch bệnh, hạn hán, bão lụt, nắng nóng sẽ xuất hiện.

Biến đổi khí hậu sẽ làm cho Việt Nam chúng ta chịu thiệt hại nặng nề. Nếu mực nước biển dâng cao đến 1,0m, nước ta sẽ mất 12% diện tích đất, và 23% dân số bị ảnh hưởng nặng nề. Khi đó, hai vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long và ven biển nước ta, trong đó có hệ thống rừng ngập mặn của chúng ta; hệ thống đất ngập nước rất giàu có về các loài  sinh vật, là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm suy thoái và đe doạ sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật. Hệ sinh thái sẽ bị tổn thương. Các rạn san hô, nơi sinh sống của hiều loài sinh vật biển quan trọng, là lá chắn chóng xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn sẽ suy thoái, đồng thời mưa nhiều làm cho nước biển bị ô nhiễm phù sa  và có thể cả các hoá chất nông nghiệp từ các cửa sông đổ ra. Nhiệt độ tăng làm nguồn thuỷ, hải sản bị phân  tán. Các loài cá nhiệt đới (kém giá trị kinh tế – trừ cá ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới (giá trị kinh tế cao) giảm.

Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế xã hội, đe doạ sự phát triển, đe doạ cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. Biến đổi khí hậu, với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái đa dạng sinh học nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn, làm tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm , bệnh dịch mới có thể phát sinh. Biến đổi khí hậu làm tăng một số nguy cơ đối với người bệnh, thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người, làm cho dân ta sẽ bị mắc các chứng bệnh khác nhau tăng cao.

Chúng ta cần góp sức dùng các giải pháp chống biến đổi khí hậu, mặt khác cần có các giải pháp thích ứng sống chung với biến đổi khí hậu. Một trong những giải pháp đó là phục hồi, phát triển rừng ngập mặn ven bờ biển nước ta.

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa mưa hàng năm từ tháng 5
đến tháng 11.  Trong mùa mưa, nước ta chịu nhiều cơn áp thấp nhiệt đới, 5 – 6 cơn bão. Trong năm 2010, miền Trung bị thiêu đốt bời những đợt nắng nong lịch sử và những đợt mưa, bão lớn lịch sử. Bão thường kết hợp với triều cường gây ra lũ lụt. Rừng ngập mặn trước tiên  có tác dụng là lá chắn bảo vệ bờ biển. Kinh nghiệm của thế giới và ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, chính rừng ngập mặn làm giảm 50 – 90% năng lượng của sóng biển, giúp bảo vệ bờ biển và các đê biển tốt hơn. Rừng ngập mặn ở Cà Mau, một mặt có tác dụng phòng hộ  ven biển tốt, chống xói lở, hạn chế tác hại của gió bão, sóng biển, mặt khác mở nhanh diện tích các bãi bồi ra biển mỗi năm được từ 50 đến 100m. trong thế kỹ vừa qua, mũi Cà Mau tiến ra phía biển được hơn 4 km.

Rừng ngập mặn giúp bảo vệ môi trường. Đối với TP.Hồ Chí Minh, rừng ngập mặn Cần Giờ là lá phổi xanh không thể thay thế, nó như một nhà máy lọc sinh học khổng lồ, không chỉ hấp thụ khí CO2 do hoạt động công nghiệp và sinh hoạt thải ra, mà còn tạo ra một lượng  Ôxy  rất lớn làm cho bầu không khí được trong lành hơn, làm giảm sự xáo trộn đất đai và bảo vệ nguồn nước ven biển.

Nước ta trải dài trên nhiều vĩ tuyến, có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới phía Nam đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc. Vì thế, rừng ngập mặn có tính đa dạng sinh học rất cao. Lượng mùn bã trong rừng ngập mặn là nguồn thức ăn phong phú cho nhiều loại động vật  ở dưới nước.  Rừng ngập mặn là nơi nuôi dưỡng nhiều loại thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao, là nơi cư trú và sinh sống của các loài chim. Rừng ngập mặn bảo vệ tính đa dạng sinh học của thảm thực vật ngập mặn giúp con người sống tốt hơn.

Rừng ngập mặn tạo ra giá trị kinh tế lớn, tạo công ăn việc làm cho người bảo vệ rừng trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, tạo môi trường xã hội ổn định.

Như vậy, rừng ngập mặn vừa bảo đảm là lá chắn xanh tốt bảo vệ bờ biển trước sóng to gió lớn, vừa bảo đảm đất giàu, vừa tạo hơi ẩm, vừa thanh lọc không khí, điều hoà nhiệt độ, vừa bảo vệ động thực vật đa dạng, cân bằng môi trường sinh thái, làm đẹp cảnh quan, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Chính vai trò to lớn của rừng ngập mặn trong biến đổi khí hậu toàn cầu,
chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu bảo vệ rừng ngập mặn.

Trước nhất là tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân, nhất là của những người quản lý về vai trò, lợi ích to lớn của rừng ngập mặn; rà soát lại qui hoạch phát triển thuỷ hải sản ven biển, điều chỉnh theo hướng ưu tiên phục hồi rừng ngập mặn bị suy thoái, hoàn nguyên các rừng ngập mặn đã sử dụng không hợp lý, bảo tồn rừng ngập mặn hiện có. Vận động toàn dân, nhất là đồng bào ven biển tích cực trồng thêm rừng ngập mặn; tích cực trồng thêm và ra sức bảo vệ rừng ngập mặn. Có chính sách nâng cao đời sống của những người quản lý rừng ngập mặn trên cơ sở rừng tốt.

Bên cạnh đó, chúng ta cần nghiên cứu và phát triển một số hoạt động kinh tế, dịch vụ nông thôn góp phần tôn tạo rừng phòng hộ Cần Giờ, ví dụ huyện Cần Giờ đã phát triển một số cơ sở nuôi trồng thú rừng, gia cầm quý hiếm kết hợp dịch vụ nông thôn như nuôi yến công nghiệp để lấy tổ yến theo kinh nghiệm thành công của một số nước Indonesia, Malaysia kết hợp tôn tạo rừng ngập mặn với nuôi tổ yến mà họ gọi là “vàng trắng”. Trung tâm nghiên cứu và phát triển yến sào của Viện KHCN phương Nam đã nghiên cứu thành công và đang phát triển công nghiệp yến sào Cần Giờ, tiến tới tổ chức sản xuất chế biến yến sào đóng hộp xuất khẩu đi các nước. Trung tâm sẵn sàng chuyển giao công nghệ nuôi và chế biến yến sào công nghiệp cho các địa phương nói chung và những nơi có rừng ngập mặn như ở Cần Giờ để góp phần phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Bảo vệ rừng ngập mặn là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta.

                                                                                                                                                                              
Viện Khoa học và Công nghệ Phương Nam,